Nhờ Đông y chữa chứng bệnh… phiền toái

19:40 |
Viêm mũi dị ứng là một trong những bệnh đầu bảng dân văn phòng mắc phải. Thủ phạm rất đa dạng: từ máy lạnh, không gian bí, bụi mốc, khói thuốc lá… cho tới quãng đường ô nhiễm từ nhà đến công sở. Khi đã bị viêm mũi hỏi thăm thì từ sếp cho tới nhân viên đều bình đẳng như nhau, dấu hiệu đầu tiên là nghẹt thở và chẩy nước mũi. Kèm theo đó là hơi thở có mùi hôi, uể oải, mệt mỏi, ngứa mũi… người bệnh liên tục ngắt quãng công việc do khó thở hay xì mũi.

Viêm mũi, viêm xoang không bị xếp vào nhóm bệnh nguy hiểm nhưng nó gây giảm hiệu suất làm việc, khó chịu… một số trường hợp nặng có thể gây biến chứng như viêm màng não, nhiễm trùng ổ mắt.
Theo y học cổ truyền, viêm mũi dị ứng phát sinh do 2 nguyên nhân: công năng tạng phủ (chủ yếu là phế, tỳ, thận) bị rối loạn; bị phong hàn, tà khí xâm nhập. Hai yếu tố này có thể phối hợp với nhau, khiến phế khí hư nhược, sức đề kháng giảm sút, dễ sinh bệnh.
Các biểu hiện của viêm mũi dị ứng rất dễ nhận thấy
Ngứa mũi và hắt hơi: Thường mỗi sáng thức dậy, bệnh nhân gặp lạnh hoặc hít phải dị nguyên nên đột nhiên thấy ngứa trong mũi, sau đó là hắt hơi liên tục vài ba lần, thậm chí 10 lần hoặc hơn, kèm theo tình trạng ngứa và chảy nước mắt, đau rát họng.
Tắc mũi: Thường là tắc cả hai bên, tắc liên tục, nặng nhẹ không đều nhau, khi nằm tình trạng tắc mũi tăng lên.
- Chảy nước mũi: Thường là nước mũi trong, nếu kèm theo tình trạng nhiễm khuẩn thì nước mũi đặc, dính và đục.
- Giảm khứu giác: Chủ yếu do niêm mạc mũi viêm phù nề.
Thời kỳ tái phát có thể kèm theo các triệu chứng như ù tai, giảm thính lực, đau đầu... hoặc các biểu hiện của tình trạng dị ứng như nổi mày đay, ho và khó thở do co thắt phế quản.
Chứng viêm mũi dị ứng rất hay tái phát, gây nhiều phiền toái cho người bệnh. Để chữa bệnh này, Đông y phối hợp dùng thuốc với châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, điều chỉnh chế độ ăn uống, sinh hoạt và tập khí công dưỡng sinh.
Nhưng trước tiên, người mắc viêm mũi nên kiểm soát môi trường – tránh tác nhân gây dị ứng. Đeo khẩu trang, rửa mũi bằng nước muối sinh lý, tắm gội sạch sẽ (để loại hết bụi trên tóc, trên da) sau khi ra ngoài trời. Thường xuyên làm vệ sinh nhà cửa, giặt chăn màn, bao gối, màn cửa và phơi dưới ánh sáng mặt trời. Không nên dùng thảm và nệm ghế bằng vải. Không nuôi chó mèo hoặc những vật có lông khác trong nhà. Với trẻ em bị viêm mũi dị ứng nhiều lần, hạn chế cho chơi thú nhồi bông.
Ngoài ra, bệnh nhân cần hạn chế tối đa sự tiếp xúc với khói thuốc, khói xe, nước hoa, hương liệu... Đối với việc dùng thuốc: Hầu hết các trường hợp viêm mũi dị ứng đều đáp ứng với điều trị bằng thuốc. Tuy nhiên, không nên dùng thuốc chống nghẹt mũi dạng xịt hoặc nhỏ quá 7 ngày. Việc lạm dụng nó sẽ gây hiện tượng sinh lý phản hồi, khiến bệnh nhân nghẹt mũi nặng hơn, phải tăng liều, dẫn đến tình trạng viêm mũi do thuốc và nghiện thuốc, rất khó điều trị.
Phương pháp xông mũi
- Dùng nước muối sinh lý nhỏ và rửa mũi trong các trường hợp viêm mũi cấp, mạn.

- Dùng thuốc xông mũi như
+ Quả bồ kết, nướng, tán nhỏ, thổi vào lỗ mũi để gây nhảy mũi trong trường hợp mũi tắc không thông vì phế khí nghịch lên.
+ Hạt nhãn, đốt lên khói dùng ống trúc dẫn cho khói xông vào mũi trong trường hợp nước mũi chảy ra không dứt, có mùi hôi.
+ Lá lốt tán nhỏ, thổi vào lỗ mũi mỗi lần một ít dùng chữa trĩ mũi.
- Dùng tỏi 4 – 5 củ, giã nát như bùn, rịt vào lòng bàn chân, băng chặt, nước mũi tự nhiên khô ráo trong trường hợp viêm mũi cấp, mạn - viêm xoang.

Phòng ngừa bệnh mũi họng bằng… tay

1. Ðộng tác xoa mũi
Dùng 2 ngón trỏ và giữa xoa mũi từ dưới lên và từ trên xuống cho ấm đều, đồng thời thở vô ra cho mạnh độ 10 – 20 lần. Ðể ngón tay chỗ giáp giữa xương mũi và xương sụn mũi, day huyệt độ 10 – 20 lần. Dùng ngón tay trỏ bên này áp vào cánh mũi bên kia, xoa mạnh độ 10 – 20 lần. Dùng 2 ngón tay trỏ day huyệt nghinh hương 10 – 20 lần. Vuốt để lỗ mũi và bẻ đầu mũi qua lại.
Tác dụng: Làm ấm mũi và chữa các bệnh ở mũi.
2. Ðộng tác xoa cổ
Ưỡn cổ và mặt lên trời, một bàn tay xoè ra, ngón cái một bên, 4 ngón kia một bên, đặt lên cổ. Xoa xuống từ cằm đến ngực cho ấm đều 10 – 20 lần.
Tác dụng: Phòng và trị viêm họng, trị ho.
Hàng ngày làm 2 lần vào các buổi sáng sớm và trước khi ngủ. Ngoài ra, nên massge bằng cách chườm nước nóng tại chỗ hai bên sống mũi giữa hai lông mày. Xông mũi bằng hơi nước nóng, uống nước nhiều để làm loãng chất tiết hàng ngày cũng là cách trị bệnh viêm xoang.
(Theo PGS.TS Phạm Thúc Hạnh, Học viện Y dược học Cổ truyền Việt Nam)
Một số bài thuốc hiệu quả mà…ngon lành
1. Trường hợp bệnh nhân bị viêm mũi dị ứng thuộc thể hàn thấp (chảy nước mũi trong, hắt hơi nhiều, ngạt mũi, thường xuất hiện hoặc tăng lên khi gặp lạnh).
Các vị thuốc: Thịt bò 90g, tỏi tươi 60g, rau thơm tươi 15g, gạo tẻ 60g, gia vị vừa đủ. Thịt bò rửa sạch, thái miếng, tỏi bóc vỏ, đập giập, rau thơm thái nhỏ. Gạo tẻ vo sạch, ninh thành cháo, khi chín cho thịt bò và tỏi vào đun sôi một lát, thêm rau thơm và gia vị, ăn nóng trong ngày. Ăn liền 5 - 7 ngày.
2. Trường hợp bệnh nhân bị viêm mũi dị ứng thuộc thể phong hàn (đau đầu, đau cổ gáy, hắt hơi, sổ mũi và ngạt mũi nhiều, bệnh phát về mùa lạnh và gặp lạnh thì các triệu chứng nặng lên).
Các vị thuốc: Đầu cá 2 cái (chừng 150g), tân di 12g, tế tân 3g, bạch chỉ 12g, gừng tươi 15g. Đầu cá bỏ mang, làm sạch, tân di gói vào túi vải, tế tân và bạch chỉ rửa sạch, gừng tươi thái chỉ. Tất cả cho vào nồi, đổ vừa nước, ninh kỹ trong 2 giờ rồi chế thêm gia vị, ăn đầu cá, uống nước canh trong ngày. Ăn liền trong 10 ngày.
3. Trường hợp bệnh nhân bị viêm mũi dị ứng thuộc thể âm hư (mũi khô, ngạt, hắt hơi và chảy nước mũi nhiều, miệng khô, họng khát, người gầy, hay có cảm giác nóng sốt về chiều, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ).
Các vị thuốc: Tây dương sâm thái phiến, ếch làm sạch, bỏ nội tạng, bách bộ và ma hoàng rửa sạch. Tất cả cho vào nồi, đổ vừa nước, hầm kỹ chừng 2 giờ rồi cho thêm gia vị, chia ăn 3 lần trong ngày.
4. Trường hợp bệnh nhân bị viêm mũi dị ứng có thể chất hư nhược khiến cho phong tà xâm nhập (tắc mũi, hắt hơi, chảy nước mũi nhiều, tinh thần mỏi mệt, chán ăn, dễ đổ mồ hôi).
Các vị thuốc: Chim bồ câu 1 con chừng 90g, hoàng kỳ 60g, tân di 9g, bạch truật 9g, đại táo 12g, gừng tươi gia vị vừa đủ. Chim bồ câu làm thịt, bỏ ruột, chặt miếng; tân di gói trong túi vải; đại táo bỏ hạt; các vị còn lại rửa sạch, thái phiến. Tất cả cho vào nồi hầm kỹ chừng 60 phút, chế thêm gia vị, ăn nóng trong ngày, ăn liền trong 7 ngày.

Cây cúc tần

04:22 |


Cúc tần còn có tên khác là cây lức, từ bi, phật phà (Tày), là loại cây bụi, cao 1-2m. Cành mảnh, có lông sau nhẵn. Lá mọc so le, màu lục xám, mép khía răng, gần như không cuống. Hoa tím nhạt, hình đầu, mọc thành ngù ở ngọn. Quả nhỏ, có cạnh. Toàn cây có lông tơ và mùi thơm. Trên cây thường có dây tơ hồng mọc và sống ký sinh.
Cây mọc hoang và được trồng làm hàng rào ở khắp nơi. Toàn cây (lá, cành, rễ) đều có thể dùng làm thuốc. Lá thường dùng tươi (hái lá non và lá bánh tẻ) thu hái quanh năm, cành và rễ thường dùng khô. Theo nghiên cứu lá chứa 2,9% protein. Toàn cây có acid chlorogenic, tinh dầu.
Theo y học cổ truyền, cúc tần có vị đắng, cay, thơm, tính ấm. Công dụng tán phong hàn, lợi tiểu, tiêu độc, tiêu ứ, tiêu đờm, sát trùng, làm ăn ngon miệng, giúp tiêu hoá. Thường dùng chữa cảm sốt không ra mồ hôi, nhức đầu, thấp khớp, đau lưng, nhức xương, chấn thương,…
Một số đơn thuốc có sử dụng cúc tần:
Chữa cảm sốt không ra mồ hôi, nhức đầu: Lá cúc tần tươi 2 phần, lá sả một phần, lá chanh một phần (mỗi phần khoảng 10g) đem sắc với nước, uống khi còn nóng. Cho thêm nước vào phần bã đun sôi, dùng để xông cho ra mồ hôi, có tác dụng giảm sốt, giải cảm.
Chữa đau mỏi lưng: Lấy lá cúc tần và cành non đem giã nát, thêm ít rượu sao nóng lên, đắp vào nơi đau ở hai bên thận.
Thấp khớp, đau nhức xương: Rễ cúc tần 15-20g, sắc nước uống. Cóthể phối hợp với rễ trinh nữ 20g, rễ bưởi bung 20g, đinh lăng 10g, cam thảo dây 10g, sắc uống. Dùng 5-7 ngày.
Chữa đau đầu do suy nghĩ nhiều, tinh thần căng thẳng: Cúc tần 50g, hoa cúc trắng 50g (xé nhỏ), đu đủ vừa chín tới 100g, óc lợn 100g. Cho cúc tần, hoa cúc trắng, đu đủ vào nồi, thêm 1 lít nước đun sôi. Sau đó cho óc lợn vào đun thêm 20 phút cho nhừ là ăn được. Ăn nóng trước bữa cơm, 2 lần/ngày, ăn liền 1 tuần.
Chữa ho do viêm khí quản: 20g cúc tần già rửa sạch, băm nhỏ, 2 nắm gạo, 3g gừng tươi, cắt nhỏ, 50g thịt lợn nạc băm nhuyễn. Tất cả đem nấu cháo chín nhừ. Ăn nóng khi đói, ngày 3 lần, ăn liên tục 3 ngày sẽ đỡ.
Chữa chấn thương bầm tím: Lấy một nắm lá cúc tần rửa sạch, giã nát nhuyễn đắp vào chỗ bầm tím sẽ mau lành. 

Thuốc Nam chữa táo bón

04:20 |


Táo bón là bệnh rất thường gặp vào mùa đông do thời tiết khô. Những người dễ mắc bệnh nhất là người cao tuổi, phụ nữ có thai và trẻ em. Nguyên nhân là do âm hư, huyết nhiệt, thiếu máu làm tân dịch giảm; hoặc người già yếu, phụ nữ sau khi sinh đẻ nhiều lần, cơ nhục suy yếu, trương lực cơ giảm gây khí trệ làm bài tiết phân khó; hoặc người vốn dương hư, khí vận hành không thông suốt nên tân dịch không lưu thông; hoặc do kiết lỵ mạn tính làm tỳ vị kém vận hóa; do lo nghĩ nhiều hại phế… gây táo bón. Xin giới thiệu một số bài thuốc của Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông trị táo bón hiệu quả dễ tìm, dễ sử dụng:
Bài thuốc của Tuệ Tĩnh
Trị táo bón do lo lắng buồn rầu làm hại phế khí, hoặc ăn nhiều thức ăn cay nóng:
- Trần bì (bỏ xơ trắng) 10g, tía tô (lấy cành lá non) 10g, chỉ xác (bỏ ruột sao qua) 10g, mộc thông (bỏ mắt) 10g. Tất cả  cho vào nồi, đổ nước  vừa đủ sắc cho uống.
- Hoặc dùng hạt tía tô, hạt vừng đen lượng bằng nhau, giã nhỏ cho vào nước, lọc bỏ bã, cho gạo đã đãi sạch nấu cháo ăn.
Trị táo bón, bí kết, bụng trướng đầy: nghệ vàng sao khô, tán nhỏ cùng mủ cây vú bò giã nhỏ làm viên bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 3 viên.
Trị đại tiện táo kết không thông lâu ngày: củ rẻ quạt giã sống 12g hòa với 1.200ml nước lọc  bỏ bã cho uống.Bài thuốc của
Hải Thượng Lãn Ông
Trị táo bón đại tiện không thông:
phèn chua 4g, ba đậu sương 2 hột nghiền chung cho đều rồi bọc giấy ướt nướng ăn. Hoặc đương quy 10g, bạch chỉ 10g, tán nhỏ uống với nước cơm. Hoặc vừng đen nấu cháo với gạo trắng, gia vị vừa đủ, ăn nóng ngày 2 lần vào sáng, tối.
Trị táo bón bí đại tiện ở người cao tuổi: hoàng kỳ 20g, trần bì (bỏ xơ) 20g tán nhỏ, lấy vừng đen 1 vốc nghiền nát, đổ nước nấu sôi, thêm 1 thìa mật ong, đun lại cho sôi rồi hòa với nước trên cho uống khi đói.
Trị táo bón, đại tiện quặn đau, mót rặn: đào nhân 12g, ngô thù du 8g, muối 4g, nấu chung đến chín thì bỏ hết, chỉ dùng đào nhân. Mỗi lần ăn 5-7 hột. Hoặc bồ kết (sao với cám) 100g, chỉ xác (sao) 100g, tán nhỏ, quết với cơm nát làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 30 viên với nước cơm.
Chữa đại tiện táo, không trung tiện được: ô mai 10 quả, bỏ hột, quết nhuyễn viên bằng quả táo, nhét vào hậu môn.            

Rau ngổ ngừa sỏi thận

04:18 |


Rau ngổ hay còn gọi là rau om, tên khoa học là Limmophila chinensis thuộc họ Scrophulariaceae. Rau thường mọc nhiều ở ao, rạch, mương và thường được trồng làm gia vị, nêm trong món canh chua, lẩu chua, giả cầy, phở, lươn um...
Để làm thuốc, người ta thường thu hái về rửa sạch, thái ngắn để dùng tươi hoặc phơi khô để dành. Rau ngổ có vị chua cay hơi se, tính mát, mùi thơm, trong cây có chứa nhiều tinh dầu (0,1%), chủ yếu là limonene, aldehyd perilla, monoterpenoid cetone, và cis-4-caranone, ngoài ra còn có các nhóm hợp chất coumarine và flavonoid có tác dụng kháng viêm và kháng khuẩn.
Trong y học cổ truyền, rau ngổ được dùng để chữa trị sạn thận, làm thuốc lợi tiểu, chữa những cơn đau thắt bụng.
Một số nghiên cứu dược học tại Việt Nam cho thấy rau ngổ có độc tính không đáng kể và độ sử dụng an toàn khá cao, có tác dụng lợi tiểu, giãn cơ, chống co thắt.
Tác dụng giãn cơ làm mất cơn đau bụng, giãn mạch, tăng lọc ở cầu thận, tăng lượng nước tiểu làm cho viên sỏi bị đẩy ra ngoài, nhờ đó bệnh nhân có thể tiểu ra những viên sỏi nhỏ.
Rau ngổ thường dùng để chữa sỏi thận, tiểu ra máu, băng huyết. Theo y học Vệ đà của Ấn Độ, rau ngổ có tác dụng sát trùng, thông mật, lợi tiểu, thông tiện, kích thích tiêu hóa, chống nôn, tăng tiết sữa cho sản phụ sau sinh, làm hạ sốt. Rau ngổ còn chữa chứng chán ăn, khó tiêu và tiểu són.
Rau ngổ được ghi nhận có tác dụng giải độc, tiêu sưng nên dùng chữa rắn độc cắn, vết cắn sưng phồng. Lấy khoảng 20-40 gr sao vàng sắc nước uống, còn đắp lá tươi giã nát lên vết thương sau khi rửa sạch. Y học Trung Quốc cũng ghi nhận bài thuốc này chữa các bệnh ngoài da, herpes mảng tròn, nấm ngứa..., uống trong và kết hợp rửa ngoài.
Để chữa sổ mũi, ho, ho gà, 15-30 gr rau ngổ sắc nước uống. Chữa sạn thận, 20-30 gr tươi giã nhỏ, thêm nước vào vắt lấy nước uống.
Người dân Malaysia và Indonesia cũng dùng rau ngổ làm thuốc lợi tiểu, chữa những cơn đau thắt bụng, hoặc giã nát đắp lên vết thương, vết loét. Ngày dùng 10-16 gr dưới dạng thuốc sắc hay viên hoàn.
Lưu ý, phụ nữ có thai không nên ăn nhiều rau ngổ vì tác dụng giãn cơ phủ tạng có thể gây sẩy thai. Thân rau ngổ có nhiều lông và hay mọc ở nơi ẩm ướt đầm lầy dễ bị nhiễm khuẩn nên cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến ngộ độc nếu rửa không kỹ.

Công dụng tuyệt vời của cây câu đằng

04:16 |


Câu đằng (Uncaria spp) tên khác là dây móc câu, dây dang quéo, móc ớ, vuốt, co nam kho (Thái), pước cậu, nam lập câu (Tày), ghím tỉu (Dao).
Bộ phận dùng làm thuốc của cây câu đằng là đoạn thân (mấu cành) có gai ở kẽ lá, cong và cứng như lưỡi câu, thu hái vào mùa hè thu, phơi hoặc sấy khô. Đoạn thân bánh tẻ tốt hơn đoạn già, thường không dài quá 3cm. Gai dài chừng 2cm. Loại 2 gai có tác dụng tốt hơn loại 1 gai. Không dùng đoạn thân không có gai. Thành phần hóa học của móc câu đằng là alcaloid, tanin, saponosid, coumarin và flavonoid. Dược liệu câu đằng có vị ngọt, chát, tính mát, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, trấn kinh, tản phong, bình can, thường được dùng phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:
Chữa tăng huyết áp, nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt:
- Câu đằng 10g, xuyên khung 5g, quế chi 3g, cam thảo 2g. Tất cả thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100 ml uống làm 2 lần trong ngày.
 - Câu đằng 10g, lá dâu 8g, cúc hoa vàng 8g, hạ khô thảo 8g, thảo quyết minh 8g, sao vàng. Sắc uống.
- Câu đằng, phòng phong, phục thần, cúc hoa vàng, đảng sâm, phục linh, trần bì, mạch môn, mỗi thứ 15g; thạch cao 30g; cam thảo 7,5g. Tất cả tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày dùng 2 lần, mỗi lần 12g dưới dạng nước sắc.
- Câu đằng, thạch quyết minh, ích mẫu, mỗi thứ 12g; hạ khô thảo 10g; đỗ trọng 9g; hoàng cầm 6g. Sắc uống trong ngày.
- Câu đằng 12g, kỷ tử, thạch hộc, sa sâm, hạ khô thảo, mạch môn, mẫu lệ, mỗi thứ 8g; trạch tả, địa cốt bì, cúc hoa, táo nhân, mỗi thứ 6g. Sắc uống.
Chữa sốt cao, chân tay co giật, nghiến răng:
- Câu đằng 10g, kim ngân hoa 9g, cúc hoa vàng 6g, địa long 6g, bạc hà 3. Tất cả sắc với 200ml nước còn 50 ml, uống làm 1 lần trong ngày.
- Câu đằng 10g, thiên ma 10g, bọ cạp 4g, cam thảo 3g, mộc hương 2g, sừng tê giác 2g. Sắc uống.
- Câu đằng 12g, răng lợn 12g, đốt cháy; bọ cạp 12g, bỏ đầu, rút ruột, tẩm rượu, sao giòn; kinh giới 40g; thuyền thoái 8g; phèn phi 8g. Tất cả phơi khô, sấy giòn, tán nhỏ, rây bột mịn, luyện với hồ làm viên bằng hạt đỗ xanh. Trẻ em 5-6 tháng tuổi, mỗi lần uống 2 viên; trẻ 1 tuổi, mỗi lần 3 viên; trẻ 2 tuổi mỗi lần 5 viên. Nghiền thuốc với trúc lịch (cây tre non ép lấy nước). Ngày uống 2-3 lần.
- Câu đằng 12g, kim ngân hoa 12g, địa long 10g, liên kiều 10g, bọ cạp 3g. Sắc uống hoặc tán bột uống.
- Câu đằng 10g, cúc hoa vàng 9g, lá dâu tằm 9g, hoàng cầm 9g, tằm vôi 5g. Sắc uống ngày một thang.
Chữa trúng phong, liệt thần kinh mặt:
- Câu đằng 15g, bạch thược 12g, địa long 12g, trân châu 9g, đại hoàng 9g, trúc lịch 25ml. Sắc uống.
- Câu đằng 12g, dây hà thủ ô tươi 24g. Sắc uống trong ngày.
Chú ý: Khi sắc thuốc gần được, mới cho câu đằng vào để cho sôi 1-2 phút, trào là được.

Trà dược xuân

04:15 |


Những ngày đầu xuân cũng là dịp diễn ra lễ hội ẩm thực đầy tính truyền thống và là dịp vui vẻ, quây quần cùng gia đình bạn bè sau cả năm dài bận rộn. Nhưng cũng chính trong những ngày này, chúng ta thường gặp những “trục trặc” về sức khỏe. Các ca đột quỵ, huyết áp, tim mạch, tiêu hóa, hô hấp và các bệnh mạn tính gia tăng. Làm thế nào có sức khỏe tốt để hưởng một mùa xuân mới trọn vẹn, bên cạnh việc giữ nếp sinh hoạt, ăn uống điều độ, bạn có thể tham khảo một số loại trà dược.
Trà dược dành cho người mắc bệnh đường tiêu hóa
Trà sinh khương đại táo: gừng tươi 20g, đại táo 10 quả, đường đỏ hoặc đường phèn lượng vừa đủ. Gừng tươi rửa sạch, thái vụn; đại táo bỏ hạt, thái vụn. Tất cả đem hãm nêm đường theo khẩu vị uống hằng ngày. Bài thuốc có tác dụng: tán phong hàn, ấm tỳ vị, ích khí bổ hư, đặc biệt tốt với những người tỳ vị hư yếu, dễ bị cảm lạnh, đau bụng, rối loạn tiêu hoá, lạnh tứ chi, huyết áp thấp, thận dương hư, dễ mắc các chứng bệnh đường hô hấp... Những người tăng huyết áp không nên dùng.
Tiểu hồi hương trà: tiểu hồi hương 10 -15g, đường ăn một lượng vừa phải. Tiểu hồi hương tán vỡ hãm với nước sôi nêm đường đủ dùng uống hằng ngày. Bài thuốc có tác dụng ôn trung tán hàn, hành khí chỉ thống, giảm đau, dùng cho người mắc chứng tỳ vị hư yếu, thường xuyên đau bụng đi ngoài, lạnh bụng, dễ mắc cảm cúm...
Trà xanh, sinh khương: trà xanh 30 - 50g, gừng tươi 5 -10g (thái lát). Tất cả rửa sạch, đun sôi nước sau đó cho trà và sinh khương vào đun tiếp 3-5 phút đem dùng. Bài này dùng cho những người ăn uống khó tiêu ậm ạch khó chịu, tỳ vị hư yếu... Người tăng huyết áp nếu sử dụng trà này nên bỏ gừng.
Trà dược cho người mắc bệnh đường hô hấp
Bách táo, ngư tinh, thảo trà: bách hợp 5-10g, đại táo 3 -5 quả, ngư tinh thảo khô 5 - 10g. Tất cả đem hãm 15 - 20 phút. Trà này có tác dụng nhuận phế, bổ hư, giảm ho tiêu đờm. Thích dụng cho những người viêm phổi phế quản, hen phế quản, viêm họng...
Câu kỷ, ngọc diệp trà: kỷ tử 5g, đại táo 3 quả bỏ hạt, râu ngô 5 -10g, lá dâu 5g. Tất cả sơ chế thái vụn đem hãm nước uống hằng ngày. Dược trà có tác dụng: mát can, nhuận phế, bổ thận khí, trừ phong, tiêu khát, lợi niệu. Thích dụng cho những người viêm gan, viêm đường tiết niệu, viêm phổi - phế quản, thận hư gây đau lưng mỏi gối…
Trà dược dành cho người bệnh tăng huyết áp, xơ vữa động mạch
Trà đan sâm khiếm thực: đan sâm 10 - 20g, tam thất 5 - 10g, khiếm thực 3 -5g, cỏ ngọt 3 - 5g. Tất cả đem hãm 15 - 20 phút đem dùng hằng ngày nhất là những ngày giá rét. Bài thuốc có tác dụng điều khí, thông huyết tiêu ứ, thúc đẩy lưu thông huyết mạch, an thần, dùng cho các trường hợp xơ vữa động mạch, mỡ máu, suy động tĩnh mạch, hồi hộp đánh trống ngực, thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim...
Thiên ma, cúc hoa trà: thiên ma 10g, cúc hoa 10g, hòe hoa 3 - 5g. Tất cả đem hãm dùng hằng ngày. Bài thuốc có tác dụng ích khí, bổ âm, an thần, hạ áp, thanh can sáng mắt, mạnh gân cốt. Bài này dùng cho những người âm hư hỏa vượng tăng huyết áp, hoa mắt chóng mặt, xơ vữa động mạch, thị lực giảm do biến chứng tăng huyết áp và tiểu đường...
Hà thủ ô, đan sâm cúc trà: hà thủ ô 20g, đan sâm 25g, cúc hoa 15g, đường phèn hay mật ong đủ dùng. Tất cả đem hãm 20 - 30 phút uống hằng ngày thay trà. Bài thuốc có tác dụng bổ can thận, hoạt huyết hoá ứ, an thần, hạ áp. Dùng cho những người thiểu năng mạch vành, thiếu máu cơ tim, xơ vữa động mạch, tăng huyết áp…
Trà dược dành cho người huyết áp thấp
Tô diệp, khương trà: tô diệp (lá tía tô) 5 -10g, gừng tươi 3g, đường đỏ đủ dùng. Tất cả thái vụn đem hãm với nước sôi nêm đường vừa đủ, dùng làm đồ uống trong những ngày giá rét. Bài thuốc có tác dụng ôn ấm trung tiêu, giải biểu tán hàn, điều hòa khí vị, dùng cho những người dễ cảm lạnh, đau đầu hoa mắt chóng mặt do huyết áp thấp, sợ lạnh, lạnh bụng, bụng trướng đau do lạnh, đại tiện lỏng nát...
Trà ngưu, nhị quế: ngưu tất 20 - 30g, nhục quế 5 - 10g, quế chi 5 - 10g. Tất cả cho vào bình hãm 20 - 30 phút dùng trong những ngày giá rét. Dùng cho những người gân cốt hư yếu, đau lưng mỏi gối, viêm đa khớp dạng thấp, cước khí, huyết áp thấp.

Món ăn bài thuốc trợ tiêu hóa

04:13 |


Bụng đầy hơi, khó tiêu, hoặc đau bụng, lạnh bụng, đi tiêu nhiều là những tình trạng thường gặp khi dạ dày chứa quá nhiều món ăn - từ mặn, ngọt, chua, cay, béo...
Lương y Phạm Như Tá cho biết có nhiều cách để giải quyết tình trạng trên.
Đơn giản như, nếu rối loạn tiêu hóa, đi tiêu nhiều thì dùng búp lá ổi nấu nước uống; hoặc dùng vỏ trái măng cụt nấu nước uống; hay cắt mấy lát gừng tươi chấm muối (đã rang chín) ăn tươi. Trái bưởi ngoài công dụng giải nhiệt còn dùng rất tốt cho người bị đau bụng, bụng tích trệ thức ăn không tiêu.
Công phu hơn, y học cổ truyền có bài “Hương sa lục quân tán” công dụng kiện tỳ (làm mạnh tỳ vị), khai uất (giải quyết bụng đầy hơi, khó tiêu), chống rối loạn tiêu hóa, giúp ăn ngon miệng hơn. Bài thuốc gồm các vị thuốc: đảng sâm, phục linh, bạch truật, cam thảo, trần bì, bán hạ, mộc hương, sa nhân. Lấy mỗi loại từ 80-100g đem tán bột cho vào hũ để dành dùng. Mỗi lần dùng từ 15-20g bột này (cho người lớn, trẻ em dùng phân nửa) pha nước chín (còn ấm), dùng một lần sau bữa ăn. Hoặc dùng bài “Bình vị tán”, gồm các vị: trần bì, thương truật, cam thảo, hậu phác. Cũng cách dùng như bài “Hương sa lục quân tán” ở trên.
Với những người bụng yếu, hay bị lạnh bụng thì có thể làm ấm tỳ vị từ các món ăn, bài thuốc như sau:
- Gan gà đem chưng cách thủy cùng nhục quế giã nát (độ 5g), và một ít gừng, rượu trắng để ăn. Theo y học cổ truyền, quế có mùi thơm, vị cay, ngọt, tính nóng, có công dụng làm ấm tỳ vị, trừ lạnh, thông huyết mạch...
- Lấy độ 200g thịt dê làm sạch, cắt lát, cùng một ít nhục quế, gừng tươi, tiểu hồi đem nấu canh để dùng.
- Nhục quế nấu lấy nước, bỏ bã, rồi dùng nước này đem nấu cháo cùng gạo, ăn với đường. Để trị tiêu chảy thì tán bột nhục quế (độ 2g) dùng với nước ấm.
- Lấy 100g gạo loại ngon rang cho vàng rồi để nguội. Lấy một ít gừng tươi giã nát hòa với ít nước, ép lấy nước cốt gừng. Cho đường, muối vào nước gừng, cùng khuấy đều, rồi cho nước này vào gạo đã rang để đó một vài phút cho gạo thấm nước gừng. Sau đó đem gạo rang thấm gừng nấu cháo thật nhừ, rắc tiêu sọ vào dùng lúc cháo còn nóng ấm.
- Lấy 200g thịt bò rửa sạch, thái mỏng; một ít rau cải, cắt khúc; một ít gừng tươi (giã nhuyễn rồi ướp với thịt bò). Nấu nguyên liệu này chín, rồi lấy nước dùng để giúp dạ dày tiêu hóa

Món ăn, bài thuốc giúp sáng mắt

04:12 |


Theo quan niệm của Y học cổ truyền mắt và tạng can có quan hệ với nhau, nên khi can nhiệt thì mắt bị viêm, sưng, đỏ do nhiệt, khi can suy yếu (huyết hư) thì thị lực kém, mắt bị thoái hoá dẫn đến nhiều bệnh ở mắt.
Muốn mắt sáng, mắt hoạt động tốt, lâu bền, chậm lão hoá, cần phải bổ tạng can, dưỡng huyết được đầy đủ. Có rất nhiều phương pháp trị liệu giúp bổ can để cho đôi mắt sáng . Sau đây là một vài bài thuốc có tác dụng bổ can thận, dưỡng huyết, làm sáng mắt:
Bài 1: Hoa cúc trắng 15g, quyết minh tử (hay thảo quyết minh) 15g, gạo tẻ 100g, đường kính trắng 15g. Cách chế biến như sau: Rang thảo quyết minh cho  có mùi thơm, để nguội, rồi cùng nấu với hoa cúc trắng, lấy nước bỏ bã, lọc trong. Cho gạo tẻ vo sạch vào nước thuốc thêm nước lã vừa đủ nấu thành cháo. Khi ăn cho thêm đường kính trắng. Mỗi ngày ăn hai lần. Mỗi liệu trình 7 ngày. Bài thuốc này có công hiệu mát gan, sáng mắt, nhuận tràng, thông tiểu tiện, rất tốt đối với những người đau mắt đỏ, nhìn mờ, tăng huyết áp.
Chú ý: Người bị tiêu chảy không nên ăn cháo này.
Bài 2: Gan gà 60g, câu kỷ tử 30g, táo đỏ 4 quả, gừng tươi 2 lát mỏng. Cách chế biến như sau: gan gà rửa sạch, thái mỏng, táo đỏ bỏ hột, cho vào bát sành, đem chưng cách thuỷ khoảng hai giờ. Nêm gia vị vừa ăn. Dùng ăn lúc đói bụng.
Bài 3:  Gan lợn 60g, táo đỏ 8 quả, hoài sơn (củ khoai mài) 20g. Cách chế biến như sau: Gan lợn rửa sạch, thái miếng. Các thứ rửa sạch, cho vào bát sành, đem chưng cách thuỷ 3 giờ. Nêm gia vị vừa ăn. Dùng ăn lúc đói bụng hoặc trong bữa cơm.
Bài 4: Gan lợn 100g, cải bó xôi 250g. Cách chế biến như sau: Gan lợn rửa sạch, thái mỏng, ướp gia vị, cải bó xôi rửa sạch, nấu canh để ăn trong bữa cơm.
Bài 5: Trứng gà 2 quả, câu kỷ tử 30g, hồng táo (hoặc táo đen) 10 quả. Nấu câu kỷ tử và táo với lượng nước vừa đủ, sôi khoảng một giờ, cho trứng gà vào khuấy đều, nấu thêm đến khi trứng chín. Nêm gia vị cho vừa ăn, dùng ăn trong bữa cơm.
Bài 6: Lươn 150g, hà thủ ô 10g, đậu đen 60g, táo đỏ 4 quả, gừng tươi 2 lát mỏng. Cách chế biến như sau: Lươn làm sạch, đậu đen ngâm mềm, cho vào nồi đất, thêm nước vừa đủ, hầm khoảng ba giờ cho nhừ. Nêm gia vị vừa ăn. Dùng trong bữa cơm. 
Lưu ý: Các bài thuốc trên nếu dùng liên tục thì liệu trình từ 7-10 ngày. Nếu dùng kéo dài, thường xuyên thì dùng 3 lần/tuần. Những người bị bệnh gan mạn tính tăng huyết áp, bệnh đường tiêu hóa... không nên sử dụng.    

Điều trị cao huyết áp không dùng thuốc

04:10 |


Trong các phương pháp điều trị bệnh cao HA, bên cạnh việc dùng thuốc có những phương pháp mang tính cổ truyền có thể giúp mọi người phòng ngừa và điều trị tốt bệnh này.
Các phương pháp này còn được nhiều nước châu Âu quan tâm và áp dụng.
Giảm nguy cơ bằng rau, củ, quả
Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Hypertension (Anh) cho thấy vitamin C có nhiều trong hoa quả và rau xanh giúp giảm nguy cơ cao huyết áp.
Để làm sáng tỏ mối liên quan giữa tiêu thụ trái cây - rau xanh và nguy cơ cao huyết áp, các nhà khoa học Anh đã phân tích số liệu từ 20.926 người trong độ tuổi từ 40-79 đã tham gia vào nghiên cứu.
Kết quả cho thấy những người có tỉ lệ vitamin C cao nhất, nguy cơ cao huyết áp giảm 22% so với những người có tỉ lệ thấp nhất. Các nhà khoa học cũng khuyên với những người huyết áp cao, lượng vitamin C tối thiểu cần cung cấp cho cơ thể mỗi ngày là 2.500 mg.
Để có thể điều trị thành công bệnh lý tăng HA hiện nay trên thế giới vẫn sử dụng cả hai phương pháp cổ truyền và hiện đại. Trong đó, các vị thuốc có tác dụng hỗ trợ cho việc điều trị bệnh lý tăng HA có nhiều ở đất nước ta như: hoa hòe, câu đàn, hạ khô thảo, giun đất (giun quế)...
Bên cạnh đó, người dân có những phương pháp dân gian đơn giản có thể chữa cao huyết áp bằng cây cỏ như dùng 1/2 kg rau cần rửa sạch, xay (hoặc giã nhuyễn) để vắt lấy nước uống. Hạt lạc (đậu phộng) 200g, để cả vỏ lụa đem ngâm vào nửa lít giấm ăn, mỗi tối trước khi đi ngủ nhai 10 hạt và nuốt; hay lá liễu tươi 250g, cho vào cùng 1 lít nước, rồi sắc (nấu) kỹ, uống trong ngày. Một số loại cây, hoa như sinh địa, trạch tả, quế chi, ngưu tất, hoa cúc, hoa đề thái... cũng có tác dụng hỗ trợ phòng ngừa và điều trị cao huyết áp.
Massage giảm cao huyết áp
Massage (xoa bóp, bấm huyệt) không chỉ được ứng dụng phòng ngừa và điều trị các bệnh về thần kinh, thoái hóa... mà còn là một trong những phương pháp phòng ngừa và điều trị bệnh cao HA hiệu quả.
Có những phương pháp massage đơn giản, không cần phải đến các trung tâm làm đẹp, bệnh viện mà mọi người có thể tự làm cho mình. Phương pháp dùng lược và tay để massage cho đầu rất tốt: Mỗi ngày chải đầu 3 lần sáng, trưa, tối; dùng lực vừa phải chải một lượt tất cả các vùng trên đầu, mỗi lần 2-3 phút. Sau đó dùng 2 bàn tay như chiếc lược, massage đầu từ trán cho tới sau gáy, rồi đan 2 tay vào nhau, dùng lực lòng bàn tay ấn để massage não bộ.
Massage bàn chân được coi là một trong những biện pháp hiệu quả. Thường xuyên dùng bàn tay miết lòng bàn chân có tác dụng kiện thận, ích trí, điều chỉnh khí, điều hòa chức năng tim thận.
Việc sử dụng rau xanh, củ quả và các dược liệu thiên nhiên cùng với phương pháp massage có thể giúp mọi người điều chỉnh được huyết áp, giảm các nguy cơ và biến chứng đáng tiếc. Tuy nhiên, các bác sĩ lưu ý, cần tham khảo ý kiến nhà chuyên môn và cần theo dõi huyết áp, nếu thấy bất thường phải đi khám, kiểm tra sớm.